Nguyên nhân, cách phòng tránh và xử lý chấn thương thường gặp ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ

Cơ thể non nớt của trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ luôn cần sự quan tâm và chăm sóc đặc biệt từ gia đình, bởi, chỉ cần 1 tác động vô tình, bé yêu cũng có thể gặp phải những chấn thương nguy hiểm khó lường. Thậm chí, khi các bác sĩ, y tá có sơ suất hoặc bất cẩn trong quá trình hộ sinh cũng có thể gây ra các chấn thương cho bé như: tổn thương thần kinh, thương tật vĩnh viễn và thậm chí là tử vong. Mẹ nên tìm hiểu những chấn thương thường gặp ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ cũng như cách phòng tránh xử lý những chấn thương đó 1 cách hợp lý nhất để bảo vệ sức khỏe quý giá của con yêu. Bài viết dưới đây sẽ liệt kê những trường hợp chấn thương thường gặp ở trẻ như: chấn thương xương, đầu và mặt, mắt và răng cùng các kiến thức bổ ích để mẹ phòng tránh và xử lý vết thương cho bé

shutterstock_395392888_huge

Ba mẹ cần trang bị kiến thức bổ ích về nguyên nhân, cách phòng tránh và xử lý những chấn thương thường gặp ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ để bảo vệ bé tối ưu.

  1. Các chấn thương ở hệ xương

Khi bé gặp phải những chấn thương ở hệ xương, ba mẹ đừng chủ quan cho rằng: xương trẻ em có lớp màng xương dày và chắc nên có thế điều chỉnh tốt khi xương gãy và phục hồi nhanh về mặt giải phẫu và chức năng. Bởi vì, nếu ba mẹ không biết điều trị kịp thời và đúng cách thì có thể xảy ra nhiều biến chứng, đôi khi gây mất chức năng của chân hoặc tay. Mẹ cần chú ý đến các chấn thương ở hệ xương thường gặp ở trẻ như sau:

– Kẹt khớp: Các mảnh xương vỡ lọt vào khe khớp gây kẹt khớp khiến khớp không thể gấp hoặc duỗi được.

+ Cách xử lý: Phẫu thuật để nắn lại mảnh xương di lệch và tập vật lý trị liệu tích cực sau phẫu thuật.

Vẹo khuỷu: hay còn gọi là “cán vá” chỉ khuỷu tay bị biến dạng vẹo vào trong hoặc vẹo ra ngoài làm cho 2 tay mất cân xứng, là biến chứng thường gặp ở trẻ em sau khi bị gãy xương. Những biến dạng khuỷu tay nặng có thể tổn thương thần kinh trụ gây ra triệu chứng tê tay hoặc teo một số cơ ở bàn tay.

+ Cách xử lý: Cho bé đến khám  BS chuyên khoa

+ Cách phòng tránh: Mẹ nên lưu ý nên cho bé đi kiểm tra thật kỹ khi bé bị té ngã vì biến chứng vẹo khuỷu không phải xảy ra ngay sau khi chấn thương mà thường xuất hiện muộn từ 3 đến 7 năm sau đó.

So le chi: Do chi lệch chồng ngắn quá nhiều cho nên hai chi phát triển không cân bằng nhau. Về lâu dài trẻ sẽ bị chân ngắn chân dài.

+ Cách xử lý: Đưa bé đến bệnh viện sớm nhất có thể để bác sĩ chuyên khoa sẽ căn cứ theo độ tuổi của trẻ và mức độ bệnh mà đưa ra phương thức điều trị cụ thể.

Gãy xương đòn: Đây là những chấn thương sinh phổ biến nhất, thường xảy ra trong những ca sinh khó (em bé quá to, sinh ngôi lệch, sinh đa thai). Nếu em bé bị gãy xương đòn nhưng không phát hiện ra có thể sẽ khiến bé bị tật suốt đời.

+ Cách xử lý: Gãy xương đòn ở trẻ sơ sinh không cần điều trị bởi trẻ có thể tự lành. Mẹ chỉ cần chăm sóc trẻ nhẹ nhàng và tìm cách cố định tay gãy của trẻ hoặc nhờ sự giúp đỡ của bác sĩ.

Để tránh cho trẻ có thể gặp các tai nạn đáng tiếc ảnh hưởng đến hệ xương, mẹ nên quan tâm và theo dõi sát sao các hoạt động của trẻ, tạo khu vực có rào chắn và đệm bảo vệ cho bé vui chơi. Khi trẻ bị té ngã, chấn thương nên đưa ngay đến cơ sở y tế chuyên khoa để được phát hiện sớm và điều trị thích hợp.

shutterstock_2425000_supersize

  1. Chấn thương vùng mắt và răng

Chấn thương gây xuất huyết trong mắt bé: cụ thể là xuất huyết dưới kết mạc do các mạch máu nhỏ trong mắt bị vỡ làm cho một hoặc cả hai mắt có những vệt màu đỏ tươi trong lòng trắng, có thể thấy rõ bằng mắt thường. Chấn thương này cũng khá phổ biến nhưng không gây hại cho bé và cũng không làm hỏng đôi mắt của bé.

+ Cách xử lý: Sau 1 tuần hay 10 ngày, các vết đỏ này sẽ biến mất hoàn toàn. Mẹ nên giữ cho bé không dụi mắt.

Chấn thương răng: bé có thể bị chấn thương răng do té ngã, nhai đá lạnh, cắn vật cứng. Bé có thể bị lung lay răng, răng lệch, răng lún vào bên trong xương ổ răng, gãy răng. Hệ quả thường thấy của chấn thương răng là: sung huyết tủy răng, chảy máu tủy răng, tủy răng bị hoại tử, rối loạn mọc răng… Về thẩm mỹ, bé có thể thiếu tư tin hơn khi bị: hàm răng vẩu, các răng cửa trên chìa nhiều ra trước, môi không che kín răng…

+ Cách xử lý: Đưa bé đi khám nha khoa càng sớm càng tốt để bảo vệ sức khỏe răng miệng.

  1. Chấn thương vùng đầu và mặt

– Chấn thương vùng đầu và mặt ở trẻ sơ sinh

Chấn thương đầu làm máu tụ ngoài màng cứng: Bé sơ sinh có thể bị chấn thương do sức ép của quá trình sinh khiến đầu bé va chạm với xương chậu của mẹ, hoặc khi các bác sĩ phải sử dụng kẹp để kéo bé ra khiến đầu bé bị bầm tím. Nếu nhẹ, vết bầm sẽ mất dần sẽ tự tan trong vòng 2 tuần đến vài tháng. Các trường hợp nặng hơn thì trẻ có thể bị nứt xương, lõm sọ hoặc các thương tổn dẫn tới máu tụ ngoài màng cứng hay dưới màng cứng.

+Cách xử lý: Mẹ nên lựa chọn những bệnh viện uy tín với những bác sĩ hộ sinh có tay nghề để đảm bảo an toàn cho bé.

Chấn thương não do thiếu oxy: Bé thường gặp phải tình trạng này khi dây rốn bị xoắn vặn và tắc nghẽn trong lúc sinh. Thiếu oxy kéo dài có thể gây ra tổn thương về não: động kinh, suy giảm tâm thần

+ Cách xử lý: Mẹ nên đề nghị các bác sĩ, y tá đỡ sinh không lạm dụng kẹp forceps để hỗ trợ vì có thể dẫn đến tổn thương não, tổn thương thần kinh và làm tê liệt khuôn mặt, vai và cánh tay của bé.

Chấn thương tụ máu dưới da đầu (Cephalohematoma): Là triệu chứng thường gặp nếu bé được hỗ trợ sinh với sự trợ giúp hút chân không. Một phần đầu bé có thể bị méo hoặc phồng lên (gọi là cephalohematoma). Những bé được sinh ra trong trường hợp này cũng có thể bị vàng da sơ sinh.

+ Cách xử lý: Mẹ có thể nhờ sự tư vấn của bác sĩ để biết được việc bé bị sưng sẽ biến mất sau một vài tuần, hay lâu hơn. Chuẩn bị các loại gối chuyên dụng mềm mại để bảo vệ vùng đầu cho bé.

Chấn thương mặt làm mặt tê liệt: Xảy ra khi mặt bé bị thâm tím, tê liệt vì bác sĩ hộ sinh sử dụng kẹp forceps tạo áp lực lên dây thần kinh mặt. Dấu hiệu để mẹ nhận ra tình trạng chấn thương thần kinh mặt là khi bé khóc, không có sự chuyển động ở bên mặt bị tổn thương và mắt bé không khép lại được khi nhắm

+ Cách xử lý: Tình trạng tê liệt này sẽ được cải thiện trong vài tuần nếu ở tình trạng tổn thương nhẹ. Nhưng nếu các dây thần kinh bị rách thì cần phải can thiệp bằng phẫu thuật.

Chấn thương thần kinh cánh tay gây liệt: Xảy ra khi các cánh tay bị thương do đi qua đường sinh của mẹ, sẽ làm trẻ mất đi khả năng gập khuỷu tay hoặc xoay cánh tay.

+ Cách xử lý: Nếu tình trạng chấn thương nhẹ: chỉ bầm tím và sưng xung quanh các dây thần kinh thì khả năng vận động của trẻ sẽ hồi phục trong vòng vài tháng. Trong trường hợp nghiêm trọng, mẹ cần phát hiện sớm các biểu hiện (tay bé không gập và cử động được) thì phải sớm đưa bé đi bác sĩ để điều trị kịp thời bằng vật lý trị liệu hoặc phẫu thuật.

Những chấn thương này nhiều khi ảnh hưởng rất lớn đến tinh thần và thể chất của trẻ nếu không được xử trí đúng đắn. Đặc biệt cấu trúc xương sọ mặt của trẻ em còn rất mềm và đàn hồi, phần xương hộp sọ chưa đủ cứng để bảo vệ não nên những chấn thương mạnh vào vùng đầu mặt rất dễ làm trẻ tử vong do tổn thương nội sọ.

shutterstock_102385168_supersize

– Chấn thương vùng đầu và mặt ở trẻ nhỏ

Chảy máu: Bé có thể bị chảy máu do rách da mặt, da đầu do tẽ ngã.

+ Cách xử lý: Ép chặt vùng chảy máu bằng miếng vải sạch rồi đưa ngay trẻ đến bệnh viện gần nhất để được sơ cứu ban đầu trước khi đến tuyến chuyên khoa.

Bầm tím phù nề, làm biến dạng hẳn khuôn mặt: Bé hiếu động nên hay té ngã do đó chấn thương này là rất hay gặp.

+ Cách xử lý: Vết bầm thường tan nhanh sau khoảng 3-4 ngày, mẹ có thể cho matxa nhẹ nhàng hoặc hỏi ý kiến bác sĩ nếu cần sử dụng thuốc tan máu bầm. Mẹ nên cẩn thận vì nếu xử trí sai lầm thì bé có thể bị sẹo.

Chấn thương vùng sọ mặt: Thường là các chấn thương như: gãy xương xung quanh ổ mắt, gãy xương gò má, xương hàm,… Bé có thể bị bầm tím mặt, sung huyết mắt, sống mũi biến dạng, lệch hàm, tách rời toàn bộ khối xương mặt ra khỏi hộp sọ. Mẹ cần chú ý những biểu hiện sau để biết những tổn thương vùng sọ mà bé gặp phải: mắt bé bị tím bầm,chảy máu mũi, chảy máu tai có thể kèm theo chảy dịch hồng, đau đầu nhiều, nôn thường xuyên mà không liên quan đến bữa ăn.

+ Cách xử lý:

  • Sơ cứu tạm thời cho bé bằng cách: Cầm máu, trấn an tinh thần trẻ. Lấy các dị vật trong khoang miệng, răng gãy nếu có thể. Nếu thấy lưỡi tụt ra sau gây khó thở cho trẻ phải kéo lưỡi ra trước bằng mọi cách: buộc chặt bằng gạc dài, khâu bằng chỉ ở chính giữa lưỡi rồi kéo ra trước.
  • Nhờ sự giúp đỡ của bác sĩ: Đưa bé đến khoa ngoại của các bệnh viện theo dõi chấn thương sọ não. Các chấn thương vùng mặt còn lại cần tìm đến chuyên khoa tai mũi họng có bộ phận phẫu thuật đầu cổ.

+ Cách phòng tránh: Nên để trẻ chơi ở những nơi rộng rãi, bằng phẳng, trống trải và giải thích cho trẻ những trò chơi nguy hiểm và những rủi ro có thể gặp phải để trẻ tự phòng tránh cho mình.

shutterstock_156421274_supersize

Hội chứng lắc ở trẻ em: thường xảy ra ở trẻ dưới 1 tuổi, đặc biệt là trẻ từ 2-4 tháng tuổi.

Đây là một hội chứng gây ra bởi tình trạng lắc quá mạnh ở trẻ nhỏ, dẫn đến chảy máu não và mắt, cuối cùng để lại những hậu quả nghiêm trọng và lâu dài như mù, chậm phát triển trí tuệ, yếu, liệt cơ, động kinh…và có thể tử vong. Hội chứng này ở trẻ em tương tự như chấn thương sọ não ở người lớn

Nguyên nhân: do rung lắc quá mạnh nhằm dỗ cho trẻ bớt khóc, thói quen đưa võng, lắc nôi ru bé ngủ hoặc những động tác đơn giản khi vui đùa với trẻ như: nhồi, xốc, tung cao trẻ, bồng trẻ đưa lên đưa xuống nhanh, ẵm trẻ đưa lên cao làm máy bay…Trẻ nhỏ do não còn phát triển nên luôn có khoảng trống giữa não và hộp sọ cộng thêm cổ còn yếu, khó giữ vững đầu nên khi bị rung lắc nhanh và mạnh sẽ gây nên những tổn thương cho não. Trẻ có thể bị nguy hiểm dù chỉ với 5 giây rung lắc.

Hội chứng này nguy hiểm và thường gặp nhưng lại rất khó phát hiện vì nhưng biểu hiện đa dạng và dễ nhầm lẫn trong nhưng bệnh lý khác. Vì vậy quan trọng nhất là các biên pháp phòng ngừa để trẻ không bị hội chứng trên:

  • Không lắc trẻ kể cả khi vui đùa hay giận dữ.
  • Khi di chuyển trẻ, giữ cổ ở tư thế cố định
  • Với người giữ trẻ đừng bao giờ nóng giận và ru lắc trẻ mạnh.

Với hàng loạt những kiểu chấn thương thường gặp ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ, hi vọng những thông tin sẽ giúp ba mẹ có nhiều kiến thức hơn để theo dõi và phát hiện kịp thời các biểu hiện khi bé gặp chấn thương. Đối với trẻ sơ sinh, mẹ cần theo sát mọi thay đổi của con, tìm hiểu nguyên nhân bé quấy khóc vì có những chấn thương lúc sinh bé mà mẹ không phát hiện được. Đối với trẻ nhỏ, mẹ nên nhắc nhở và theo dõi kỹ từng hoạt động của con mình, xây dựng khu vực vui chơi an toàn, trang bị kiến thức cho trẻ tự mình tránh khỏi những nơi nguy hiểm và dễ gây tai nạn. Những cẩm nang kiến thức trên đây cùng sự tận tâm và tình yêu vô bờ bến của mẹ chắc chắn sẽ làm rào chắn vững chãi để bảo vệ bé yêu khỏi những chấn thương không mong muốn trong giai đoạn đầu đời.

Bác sỹ Hồ Thị Nam Huế
Trung tâm Dinh dưỡng VNM

Mẹ cần hỗ trợ?

Trung tâm tư vấn dinh dưỡng

1900545425

Viết cho chúng tôi

Email

GỬI CÂU HỎI CHO CHÚNG TÔI

* Dưới 200 ký tự